NgheDanh.comNghệ Danh
Nghệ danh trong sân khấu truyền thống

Nghệ danh trong chèo: phường chèo, danh xưng trùm, cả và tên gắn với vai đào, hề

Người diễn chèo xưa ít dùng nghệ danh đẹp: họ được gọi theo phường, theo làng, theo vị trí trùm, cả và theo vai đào thương, đào lệch, hề; khác cải lương ở đâu.

A bamboo mat spread on a village courtyard at night, performers in silk costumes seen from behind waiting at the edge, drummer hands on a small drum, lantern glow, soft violet tones

Người diễn chèo xưa ít khi mang nghệ danh theo kiểu cải lương. Chèo là sân khấu của làng ở đồng bằng Bắc Bộ: người diễn thuộc một phường chèo, được gọi bằng tên thường ngày, bằng vị trí trong phường như trùm, cả, hoặc bằng vai sở trường như đào thương, đào lệch, hề. Khi một người diễn một vai quá hay, khán giả có thể gọi luôn người ấy bằng tên nhân vật.

Khi chèo bước vào nhà hát và đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp trong thế kỷ 20, người diễn thường đứng tên khai sinh trên chương trình. Vì thế nếu bạn tìm "nghệ danh chèo" với hình dung về những cái tên hoa mỹ, kết quả sẽ khác mong đợi. Bài này giải thích vì sao, mô tả các loại danh xưng trong chèo, và gợi ý cho người học chèo hôm nay khi cần một cái tên dùng trên sân khấu và trên mạng.

Chèo là sân khấu làng: tên người gắn với phường, với làng

Chèo cổ sống trong không gian làng xã đồng bằng sông Hồng. Đêm diễn thường dựng ở sân đình hoặc khoảng sân rộng, trải một chiếc chiếu làm sân khấu, nên mới có cách nói chiếu chèo. Người diễn tổ chức thành phường chèo, nhiều khi là người cùng làng hay vùng lân cận, ban ngày làm ruộng, làm nghề, mùa rảnh hoặc dịp hội mới đi diễn.

Trong một cộng đồng như vậy, ai cũng biết ai. Người xem nhận ra người diễn là anh hàng xóm, cô con gái nhà bên. Nhu cầu một cái tên khác để quảng bá gần như không có: tên được truyền miệng trong vùng, và cái người ta nhớ là "phường làng ấy hát hay", "chị ấy đóng đào lệch giỏi". Danh tiếng gắn với phường và làng nhiều hơn với từng tên riêng.

Người nghiên cứu hay nói đến các vùng chèo lâu đời quanh đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có cách gọi tứ chiếng chèo để chỉ bốn vùng nổi tiếng về nghề. Khi nhắc tới một người diễn chèo xưa, lời kể dân gian thường đi kèm tên làng hoặc tên vùng, giống như người Nam Bộ ghép quê vào nghệ danh cải lương. Đây là điểm gặp nhau thú vị giữa hai miền: địa danh là công cụ phân biệt người tự nhiên nhất khi tên riêng trùng nhiều.

Một hệ quả cho người làm tư liệu: phần lớn người diễn chèo cổ không để lại tên trong văn bản, chỉ còn trong trí nhớ cộng đồng. Những gì ghi lại được thường là danh xưng kèm vai và làng, rất khó đối chiếu chéo.

Trùm phường, ông cả: danh xưng theo vị trí, không phải nghệ danh

Trong phường chèo có người đứng đầu, thường được gọi là trùm hay trùm phường. Người này lo tổ chức, nhận lời đi diễn, giữ lề lối của phường, nhiều khi cũng là người diễn giỏi và người truyền nghề. Danh xưng "trùm" vì vậy là chỉ vị trí, giống chức danh, chứ không phải tên nghề do người ấy tự chọn.

Bên cạnh đó là các cách gọi theo thứ bậc của người miền Bắc: người con đầu lòng gọi là cả (anh cả, chị cả), khác với miền Nam gọi là Hai. Ghép danh xưng vị trí hoặc thứ bậc với tên riêng ra những cách gọi kiểu "trùm + tên", "cả + tên". Những cách gọi này đi theo người diễn suốt đời nghề và xuất hiện trong lời kể, nhưng bản chất là danh xưng xã hội.

Khi đọc tư liệu, cần phân biệt ba lớp tên: tên thường ngày (tên khai sinh hoặc tên gọi trong nhà), danh xưng vị trí (trùm, cả), và danh xưng theo vai (đào, kép, hề). Trộn ba lớp này dễ dẫn đến nhầm: tưởng "trùm" là họ, tưởng tên vai là tên người. Với nghệ danh cải lương, lớp danh xưng do nghề đặt nổi hơn; với chèo, lớp danh xưng xã hội và lớp vai nổi hơn.

Người học chèo hôm nay hầu như không dùng các danh xưng vị trí này cho mình. Chúng thuộc về một tổ chức nghề đã thay đổi, và tự gọi mình là trùm sẽ bị coi là thiếu khiêm tốn.

Hệ vai chèo và cách khán giả gọi người diễn

Chèo có hệ vai rõ, và khán giả quen chèo gọi người diễn qua vai họ đóng hay nhất. Bảng dưới tóm tắt các vai chính và cách danh xưng thường gắn vào.

VaiNhân vật tiêu biểuCách khán giả hay nhắc người diễn
Đào thươngNgười phụ nữ hiền hậu, chịu nhiều oan khổNgười đóng đào thương kèm tên làng hoặc tên phường
Đào lệch (đào lẳng)Cô gái táo bạo, lẳng lơ như Thị MầuHay được gọi theo nhân vật nổi tiếng nhất mà người ấy đóng
Đào phaNhân vật vừa có nét thương vừa có nét lệchÍt thành danh xưng riêng
KépThư sinh, người chồng, người con trung hậuKép kèm tên, đôi khi gắn với vai thư sinh nổi tiếng
Hề (hề áo ngắn, hề gậy)Người hầu, mõ làng, thầy đồ, người nghèo dí dỏmDanh xưng thân mật, dễ thành tên gọi lâu năm
Mụ, lãoMẹ chồng ác, mẹ già, ông giàNhắc theo vai, ít nêu tên trên quảng cáo

Bảng chỉ mô tả cách nói phổ biến, không phải quy định. Điểm chung của chèo là vai đi trước tên: khán giả nhớ "người đóng Thị Mầu hay nhất vùng" trước khi nhớ người ấy tên gì.

Vì vai chèo có khuôn tính cách rõ, một người theo một dòng vai suốt nhiều năm gần như được định danh bằng dòng vai ấy, đặc biệt ở vai hề và vai đào lệch, hai dòng vai giàu tính ứng tác, nơi người diễn để lại dấu ấn cá nhân rõ nhất.

Thị Mầu, vai hề: khi nhân vật lấn át tên người

Thị Mầu là nhân vật đào lệch nổi tiếng trong một vở chèo cổ quen thuộc: cô gái con nhà giàu, táo bạo, nói năng dạn dĩ. Vai này đòi hỏi người diễn giỏi cả hát, múa lẫn ứng tác, nên người đóng thành công thường được khán giả nhớ lâu. Trong lời khen của khán giả, câu "Thị Mầu của đoàn ấy" hay "người đóng Thị Mầu" phổ biến không kém việc nêu tên người diễn.

Vai hề cũng vậy. Hề chèo là nơi người diễn được đối đáp, chêm lời, chọc cười theo khán giả từng đêm. Một người diễn hề hay có thể được cả vùng gọi bằng một danh xưng thân mật, có khi là tên một nhân vật hề họ đóng nhiều lần. Danh xưng ấy không do ai đặt, mà do khán giả gọi mãi thành quen.

Hiện tượng nhân vật lấn át tên người có hai mặt. Mặt được: người diễn có một bảo chứng mà không cần quảng bá, khán giả đến vì muốn xem đúng vai ấy do đúng người ấy đóng. Mặt mất: khi người diễn chuyển sang vai khác, khán giả có thể khó chấp nhận, và tên thật của người diễn mờ đi trong trí nhớ chung.

Bài riêng về nghệ danh gắn với vai diễn để đời trong danh mục này phân tích kỹ hiện tượng này trên nhiều loại hình. Ở chèo, nó mạnh hơn cải lương vì tích chèo cổ được diễn đi diễn lại qua nhiều thế hệ, và khán giả so sánh từng người đóng cùng một vai.

Từ chiếu chèo vào nhà hát: tên khai sinh lên chương trình in

Trong thế kỷ 20, chèo dần có mặt ở nhà hát, đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp và trường đào tạo. Người diễn được tuyển, học bài bản, biểu diễn theo kế hoạch của đoàn. Cách ghi tên đổi theo: chương trình in và bảng phân vai ghi họ tên đầy đủ hoặc tên thường dùng của người diễn, cạnh tên nhân vật.

Môi trường đoàn nghệ thuật không khuyến khích nghệ danh hoa mỹ. Tên người diễn nằm trong danh sách diễn viên của đoàn, xuất hiện trên văn bản hành chính, giấy mời, báo chí. Dùng một cái tên khác tên khai sinh tạo ra phiền phức giấy tờ mà không đem lại nhiều lợi ích, vì khán giả vẫn đến vì vở và vì đoàn.

Một số người diễn chèo vẫn được khán giả và đồng nghiệp gọi bằng tên thân mật, tên rút gọn hoặc tên gắn vai, nhưng trên giấy tờ và chương trình, tên khai sinh là chuẩn. Khi đọc báo chí viết về nghệ sĩ chèo, nếu thấy một tên gọi khác nhau giữa bài này và bài kia, nhiều khả năng đó là sự chênh lệch giữa tên thân mật và tên trên chương trình, không phải hai người khác nhau. Nên đối chiếu với tư liệu của đoàn trước khi kết luận.

Điều này khác hẳn cải lương thời gánh hát tư nhân, nơi nghệ danh là thứ được đầu tư để bán vé.

Chèo và cải lương: vì sao hai nơi đặt tên khác nhau

Đặt chèo cạnh cải lương cho thấy nghệ danh phụ thuộc vào cách một loại hình sân khấu tổ chức và trình bày người diễn.

Tiêu chíChèo cổCải lương thời gánh hát
Không gian diễnSân đình, chiếu chèo trong làngRạp, sân khấu thị xã, chợ quận
Tổ chứcPhường chèo, người cùng làngGánh hát tư nhân, bầu gánh bỏ vốn
Khán giảNgười trong vùng, quen mặt người diễnKhán giả nhiều tỉnh, chỉ biết qua quảng cáo
Thứ được nhớPhường, làng, vaiTên đào kép ngôi sao
Nhu cầu nghệ danhThấp, danh xưng xã hội và vai là đủCao, tên phải dễ rao, dễ in
Khi chuyên nghiệp hoáTên khai sinh trên chương trình đoànNghệ danh vẫn phổ biến, dần giảm ở thế hệ sau

Bảng giản lược để thấy xu hướng, không có nghĩa không người diễn chèo nào có nghệ danh hay mọi nghệ sĩ cải lương đều có. Giá trị của phép so sánh nằm ở chỗ chỉ ra cơ chế: nghệ danh nảy sinh khi người diễn cần được nhận ra bởi những khán giả không quen biết họ.

Gợi ý cho người học chèo hôm nay khi chọn tên

Người học chèo hôm nay biểu diễn ở nhà hát, trên truyền hình, và ngày càng nhiều trên mạng. Vài gợi ý khi chọn tên dùng làm nghề:

  • Giữ tên khai sinh làm tên chính nếu bạn hoạt động trong đoàn nghệ thuật: tên trên chương trình, giấy tờ và mạng xã hội nên thống nhất.
  • Thêm chữ chỉ nghề vào tên tài khoản nếu tên thật trùng nhiều (ví dụ giả định: "Lan Chèo", "Hùng hề chèo") thay vì đổi hẳn tên.
  • Không tự gắn tên nhân vật nổi tiếng như Thị Mầu vào tên mình khi chưa được khán giả gọi như vậy; danh xưng theo vai là khán giả trao, không phải tự nhận.
  • Ghi rõ vai sở trường trong phần giới thiệu: đào thương, đào lệch, kép, hề. Đây là cách khán giả chèo vẫn nhận ra người diễn từ xưa.
  • Tránh danh xưng vị trí như trùm, cả, vốn thuộc tổ chức phường xưa và mang sắc thái thứ bậc.
  • Kiểm trùng trên mạng trước khi lập tài khoản và giữ cùng một cách viết ở mọi nền tảng.

Nếu bạn muốn đặt một nghệ danh riêng, bài hướng dẫn đặt nghệ danh cho người học sân khấu truyền thống trong danh mục này có quy trình từng bước.

Câu hỏi thường gặp

Nghệ sĩ chèo có dùng nghệ danh không?

Ít hơn nhiều so với cải lương. Người diễn chèo cổ được gọi theo tên thường ngày, theo phường, theo vai; khi vào đoàn chuyên nghiệp thì tên khai sinh thường lên chương trình. Một số người được khán giả gọi bằng tên thân mật hoặc tên gắn vai.

Trùm phường chèo là gì?

Trùm là người đứng đầu phường chèo, lo tổ chức, nhận lời diễn, giữ lề lối và thường truyền nghề. Đây là danh xưng chỉ vị trí trong phường, giống một chức danh, không phải nghệ danh do người diễn tự chọn.

Đào lệch và đào thương khác nhau thế nào?

Đào thương là vai người phụ nữ hiền hậu, chịu oan khổ, hát và múa đằm. Đào lệch là vai cô gái táo bạo, lẳng lơ, ứng tác nhiều, tiêu biểu là Thị Mầu. Hai dòng vai đòi hỏi chất giọng và lối diễn khác nhau.

Vì sao khán giả hay gọi người diễn chèo theo tên nhân vật?

Vì tích chèo cổ được diễn đi diễn lại qua nhiều thế hệ, khán giả quen so sánh từng người đóng cùng một vai. Người đóng một vai quá hay được nhớ gắn liền với nhân vật ấy, có khi hơn cả tên riêng của mình.

Tứ chiếng chèo là gì?

Đó là cách nói quen trong giới chèo để chỉ bốn vùng chèo nổi tiếng quanh đồng bằng Bắc Bộ. Cách xác định cụ thể từng chiếng có khác nhau giữa các tài liệu, nên khi viết chính xác nên dẫn theo một công trình nghiên cứu chèo cụ thể.

Người học chèo có nên đặt nghệ danh để làm nội dung trên mạng?

Không bắt buộc. Nếu tên thật dễ tìm thì nên giữ để thống nhất với đoàn. Nếu trùng nhiều, có thể thêm chữ chỉ nghề vào tên tài khoản. Nếu đặt nghệ danh riêng, nên kiểm trùng và tránh tự gắn tên nhân vật nổi tiếng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.