Phần lớn những cây bút nổi bật của văn chương Việt Nam thế kỷ 20 được người đọc biết bằng bút danh chứ không bằng tên khai sinh. Tản Đà là Nguyễn Khắc Hiếu, Nam Cao là Trần Hữu Tri, Tô Hoài là Nguyễn Sen, Nhất Linh là Nguyễn Tường Tam, Khái Hưng là Trần Khánh Giư, Thạch Lam là Nguyễn Tường Vinh, Xuân Diệu là Ngô Xuân Diệu, Tố Hữu là Nguyễn Kim Thành.
Các bút danh ấy được đặt theo vài cách lặp lại: lấy tên quê hương, sông núi; giữ một phần tên thật; ghép học vị với tên; hoặc chọn một chữ mang tinh thần riêng. Bên cạnh đó cũng có những người viết nổi tiếng giữ nguyên tên thật trên tác phẩm chính, như Vũ Trọng Phụng hay Nguyễn Công Hoan. Bài này đi qua các nhóm ấy, chỉ dựa trên những dữ kiện đã được ghi nhận rộng rãi.
Vì sao thế hệ cầm bút đầu thế kỷ 20 hay dùng bút danh
Có ba lực đẩy chính. Thứ nhất là truyền thống tên hiệu của nhà nho: người có học xưa vốn quen có nhiều tên, ký tên hiệu dưới thơ văn. Khi lớp trí thức chuyển từ chữ Hán sang chữ quốc ngữ, thói quen ấy đi theo họ.
Thứ hai là sự bùng lên của báo chí quốc ngữ trong các thập niên 1920–1940. Một người viết có thể cùng lúc viết xã luận, truyện ngắn, thơ, mục trào phúng cho nhiều tờ báo. Ký mỗi loại một tên giúp tờ báo trông như có nhiều cây bút hơn, giúp người viết tách giọng nghiêm túc khỏi giọng đùa cợt, và đôi khi giúp họ tránh rắc rối khi viết những bài gai góc dưới điều kiện báo chí thời thuộc địa.
Thứ ba là ý thức về tên như một tuyên ngôn. Với thế hệ trẻ của phong trào Thơ mới và tiểu thuyết hiện đại, một bút danh gọn, hiện đại, gợi hình ảnh là cách tự định vị mình khác với lớp nhà nho cũ. Những cái tên hai âm tiết như Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu nghe trẻ, nhẹ và hợp với tờ báo in hơn là những tên hiệu nhiều chữ Hán của thế hệ trước.
Hệ quả là để đọc văn học giai đoạn này, nhà nghiên cứu luôn phải hỏi: bài này ký tên gì, tên ấy của ai, và người ấy còn ký tên nào khác. Đó là lý do có cả những công trình chuyên khảo về bút danh.
Bảng đối chiếu tên thật và bút danh
Bảng chỉ gồm những trường hợp đã được sách giáo khoa, từ điển văn học và tài liệu phổ biến ghi nhận thống nhất. Năm sinh không ghi ở những trường hợp tài liệu còn chênh nhau.
| Bút danh | Tên khai sinh | Năm sinh – mất | Tác phẩm hoặc dấu mốc tiêu biểu |
|---|---|---|---|
| Tú Xương | Trần Tế Xương | 1870–1907 | Thơ trào phúng về đất Nam Định |
| Tản Đà | Nguyễn Khắc Hiếu | 1889–1939 | Thơ, văn xuôi, báo chí; được xem là gạch nối sang Thơ mới |
| Khái Hưng | Trần Khánh Giư | 1896–1947 | Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân |
| Nhất Linh | Nguyễn Tường Tam | 1906–1963 | Đoạn tuyệt, Đôi bạn; người lập Tự Lực văn đoàn |
| Hoàng Đạo | Nguyễn Tường Long | 1906–1948 | Thành viên chủ chốt Tự Lực văn đoàn |
| Thế Lữ | Nguyễn Thứ Lễ | 1907–1989 | Thơ mới, sau gắn bó với kịch nói |
| Thạch Lam | Nguyễn Tường Vinh | 1910–1942 | Gió đầu mùa, Hà Nội băm sáu phố phường |
| Hàn Mặc Tử | Nguyễn Trọng Trí | 1912–1940 | Gái quê, Đau thương |
| Xuân Diệu | Ngô Xuân Diệu | 1916–1985 | Thơ thơ, Gửi hương cho gió |
| Nam Cao | Trần Hữu Tri | mất 1951 | Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn |
| Huy Cận | Cù Huy Cận | 1919–2005 | Lửa thiêng |
| Tô Hoài | Nguyễn Sen | 1920–2014 | Dế Mèn phiêu lưu ký |
| Chế Lan Viên | Phan Ngọc Hoan | 1920–1989 | Điêu tàn |
| Tố Hữu | Nguyễn Kim Thành | 1920–2002 | Từ ấy |
Với Nam Cao, tài liệu ghi năm sinh không thống nhất nên bảng chỉ ghi năm mất. Với các trường hợp khác, nếu bạn cần trích dẫn trong công trình học thuật, hãy đối chiếu lại với từ điển văn học hoặc tiểu sử chính thức.
Lấy quê làm tên: Tản Đà, Nam Cao, Tô Hoài
Kiểu đặt bút danh có sức sống lâu nhất là ghép tên địa danh quê nhà. Tản Đà là trường hợp rõ nhất: núi Tản (Tản Viên) và sông Đà gắn với quê hương Nguyễn Khắc Hiếu ở xứ Đoài. Cái tên hai chữ gói cả một vùng non nước, và gần như mọi bài viết về ông đều kể lại nguồn gốc ấy.
Nam Cao theo cách giải thích phổ biến được ghép từ tên tổng Cao Đà và huyện Nam Sang, quê ông ở vùng Lý Nhân, Hà Nam cũ (nay thuộc tỉnh Ninh Bình sau sáp nhập 2025). Tô Hoài được giải thích là ghép sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức, vùng ven Hà Nội nơi Nguyễn Sen sinh ra và lớn lên. Cả hai đều cho thấy một ý: bút danh không chỉ là cái tên, mà là một lời nhắc về nơi người viết thuộc về.
Cách đặt tên này còn có lợi ích thực tế mà người viết hôm nay có thể học: tên có câu chuyện để kể, dễ nhớ vì gắn với một hình ảnh cụ thể, và người đọc cùng vùng có thêm lý do để gắn bó. Điểm cần cân nhắc là nếu bạn cần kín đáo, tên quê có thể giúp người quen đoán ra bạn nhanh hơn.
Một nhà, nhiều bút danh: anh em Nguyễn Tường và Tự Lực văn đoàn
Tự Lực văn đoàn, nhóm văn chương hình thành đầu thập niên 1930 quanh các tờ Phong Hoá và Ngày Nay, là ví dụ đặc biệt về bút danh trong một gia đình. Ba anh em nhà Nguyễn Tường đều viết dưới bút danh: Nguyễn Tường Tam là Nhất Linh, Nguyễn Tường Long là Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Vinh là Thạch Lam. Người đọc thời ấy theo dõi ba giọng văn khác hẳn nhau — tiểu thuyết luận đề, bình luận xã hội, truyện ngắn trữ tình — mà không nhất thiết biết họ là anh em.
Khái Hưng, tức Trần Khánh Giư, là cây bút chủ lực khác của nhóm. Ông và Nhất Linh còn cùng viết một số tiểu thuyết như Gánh hàng hoa và Đời mưa gió, ký cả hai tên. Đây là cách viết chung khác với một bút danh chung: người đọc thấy rõ có hai tác giả, mỗi người giữ tên của mình.
Bài học từ nhóm này với người viết hôm nay: một bút danh giúp mỗi người giữ một giọng riêng ngay cả khi họ làm chung một tờ báo, chung một nhà. Nó cho phép tờ báo có nhiều "gương mặt", và cho phép từng người viết được đánh giá theo tác phẩm thay vì theo quan hệ gia đình. Việc đọc các tiểu thuyết của nhóm thuộc phạm vi phê bình văn học; ở đây chỉ bàn về cách họ dùng tên.
Thơ mới và những bút danh hai chữ
Phong trào Thơ mới những năm 1930 sản sinh hàng loạt bút danh ngắn gọn. Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ) là một trong những tiếng thơ mở đường. Xuân Diệu đơn giản bỏ họ Ngô, giữ tên đệm và tên. Huy Cận cũng làm tương tự với tên Cù Huy Cận. Hai cách này cho thấy một bút danh có thể chỉ là tên thật được rút gọn mà vẫn thành dấu ấn.
Chế Lan Viên, tên thật Phan Ngọc Hoan, chọn một bút danh ba chữ gợi không khí Chăm Pa, rất hợp với tập Điêu tàn ông in khi còn rất trẻ. Hàn Mặc Tử, tên thật Nguyễn Trọng Trí, là ví dụ một người đi qua nhiều bút danh: trước khi dừng ở Hàn Mặc Tử, ông từng ký những tên khác như Phong Trần và Lệ Thanh.
Từ nhóm này có thể rút ra hai kiểu bút danh đối lập. Kiểu thứ nhất bám sát tên thật, dễ nhận, hợp với người không cần kín đáo. Kiểu thứ hai tạo một không khí, gắn với thế giới thơ của tác giả. Cả hai đều sống được, vì điều làm nên bút danh nổi tiếng cuối cùng vẫn là tác phẩm đứng sau nó.
Những người giữ tên thật và cách đọc bút danh khi tra cứu
Không phải ai cũng chọn bút danh cho tác phẩm chính. Vũ Trọng Phụng (1912–1939) ký tên thật trên Số đỏ, Giông tố và các phóng sự của mình. Nguyễn Công Hoan và Nguyễn Tuân cũng được biết đến bằng tên thật. Việc họ còn ký những tên khác trên các bài báo lẻ hay không là chuyện của giới khảo cứu; điều đáng ghi nhận là tên thật hoàn toàn có thể trở thành một tên văn chương mạnh.
Khi tra cứu văn học giai đoạn này, có ba điều nên nhớ. Một: một bút danh có thể do nhiều người dùng, nhất là các tên ký tắt hoặc tên chung của toà soạn, nên đừng mặc định mọi bài ký cùng tên là của một người. Hai: một người có thể có nhiều bút danh, nên muốn đọc trọn một tác giả cần tìm danh mục bút danh do các nhà nghiên cứu lập. Ba: năm sinh, quê quán trong các tài liệu phổ thông đôi khi chênh nhau; muốn trích dẫn chính xác, hãy dùng từ điển văn học hoặc các công trình khảo cứu có ghi nguồn.
Đây cũng là lời nhắc cho người viết hôm nay: nếu bạn dùng bút danh, nên để lại dấu vết rõ ràng về mối liên hệ giữa tên ấy và bạn — trong hợp đồng, trong thư từ, trong hồ sơ của toà soạn. Một thế kỷ sau, chính những dấu vết ấy giúp người đọc biết đúng ai đã viết gì.
Người viết hôm nay học được gì từ cách đặt tên của thế hệ trước
Nhìn lại các bút danh trong bảng trên, có thể gom thành vài kiểu đặt tên lặp lại. Mỗi kiểu có điểm mạnh và điểm yếu riêng khi áp dụng cho người mới viết hôm nay.
- Ghép địa danh quê nhà (Tản Đà, Nam Cao, Tô Hoài): tên có gốc rễ và câu chuyện, dễ tạo cảm tình với người đọc cùng vùng. Điểm yếu là dễ bị người quen đoán ra, và nhiều địa danh lớn đã được dùng; hôm nay nên chọn một địa danh nhỏ, riêng của mình.
- Giữ tên đệm và tên, bỏ họ (Xuân Diệu, Huy Cận): gần như không phải "nghĩ ra" gì, người quen nhận ngay. Hợp với người không cần kín đáo, chỉ muốn một tên gọn hơn họ tên đầy đủ.
- Ghép danh xưng với tên (Tú Xương): tên mang theo một vai trò xã hội. Ngày nay kiểu này hiếm vì học vị không còn là danh xưng đời thường, nhưng ý tưởng gắn tên với một vai — nghề, tính cách — vẫn dùng được.
- Tạo một không khí riêng (Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử): tên nói về thế giới thơ văn của tác giả hơn là về bản thân. Mạnh khi tác phẩm và tên khớp nhau; rủi ro khi tác giả chuyển sang một thế giới khác hẳn.
- Ký tên thật (Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan): không có gì phải quản lý, không có gì để lộ. Hợp với người không cần tách đời tư và có tên thật dễ nhớ, không trùng.
Không kiểu nào tốt hơn kiểu nào một cách tuyệt đối. Điều các ví dụ trên cho thấy là một bút danh sống lâu khi nó ngắn, dễ đọc, có một hạt nghĩa riêng và được dùng nhất quán suốt đời viết. Phần còn lại do tác phẩm quyết định.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Nam Cao lấy bút danh là Nam Cao?
Theo cách giải thích phổ biến trong các tài liệu về ông, Nam Cao là ghép chữ đầu của tên huyện Nam Sang và tên tổng Cao Đà, quê hương của Trần Hữu Tri ở vùng Lý Nhân, Hà Nam cũ. Đây là kiểu đặt bút danh theo địa danh rất phổ biến thời ấy.
Thạch Lam, Nhất Linh, Hoàng Đạo có quan hệ gì với nhau?
Ba người là anh em ruột trong gia đình Nguyễn Tường: Nhất Linh là Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo là Nguyễn Tường Long, Thạch Lam là Nguyễn Tường Vinh. Cả ba đều là thành viên chủ chốt của Tự Lực văn đoàn và viết dưới bút danh riêng.
Vũ Trọng Phụng có dùng bút danh không?
Vũ Trọng Phụng được biết đến và ký các tác phẩm chính như Số đỏ, Giông tố bằng tên thật. Ông là ví dụ cho thấy người viết không bắt buộc phải có bút danh; tên thật vẫn có thể trở thành một tên tuổi văn chương.
Vì sao tài liệu ghi năm sinh của một số nhà văn không thống nhất?
Thời trước, giấy tờ hộ tịch không đầy đủ, nhiều người khai năm sinh khác nhau trong các giai đoạn đời, và các tài liệu phổ thông chép lại nhau. Khi cần trích dẫn, nên dùng từ điển văn học hoặc công trình khảo cứu có ghi nguồn cụ thể.
Có tài liệu nào tổng hợp bút danh của nhà văn Việt Nam không?
Có các công trình chuyên khảo và từ điển về tên hiệu, bút danh của người viết Việt Nam do các nhà nghiên cứu biên soạn. Bạn có thể tìm ở các thư viện lớn hoặc thư viện trường đại học có ngành văn học và đối chiếu thêm với từ điển văn học.
Tố Hữu và Tô Hoài có liên quan gì không?
Không. Hai cái tên chỉ gần nhau về âm. Tố Hữu là bút danh của nhà thơ Nguyễn Kim Thành, tác giả tập thơ Từ ấy. Tô Hoài là bút danh của nhà văn Nguyễn Sen, tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký. Họ là hai người khác nhau, viết ở hai mảng khác nhau.